Ở xương dài màng xương có chức năng gì? Cấu tạo của xương

Ở xương dài màng xương có chức năng gì? Cấu tạo của xương là chủ đề hôm nay pgdninhphuoc.edu.vn cùng bạn tìm hiểu. Hãy đọc thật kĩ bài viết sau để hiểu rõ hơn nhé.!

Periosteum là một màng vô cùng quan trọng đối với cơ thể con người. Vậy màng xương là gì? Nó hoạt động như thế nào? Nêu thành phần và cấu tạo của xương? Hãy cùng muahangdambao.com đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này nhé! Hãy bắt đầu cùng nhau!

Màng xương là gì?

Màng xương là màng liên kết bao quanh xương, màng xương thường không nhìn thấy được trên phim X-quang mà chỉ có thể phát hiện qua siêu âm hoặc chụp cộng hưởng từ.

Màng xương là gì?
Màng xương là gì?

Cấu tạo của màng xương gồm 2 lớp là xương bao bọc bên ngoài và tủy xương ở bên trong. Lớp bên ngoài được tạo thành từ các sợi mô liên kết chắc chắn có thể tạo thành một lớp mỏng bao quanh bên ngoài và bám chặt vào xương. Lớp trong cùng sẽ bao gồm nhiều tế bào tạo xương giúp xương phát triển và dài ra, lớp màng này có các mạch máu đến nuôi dưỡng. Màng xương giúp xương phát triển theo chiều ngang. Xương to ra theo chiều ngang cũng do các tế bào màng xương phân chia để tạo ra các tế bào mới, các tế bào cũ sẽ bị đẩy vào trong để biến thành xương.

Nêu chức năng của màng xương ở xương dài?

Như đã nói, ở xương dài, màng xương có chức năng chính: Giúp xương phát triển to hơn về bề ngangcác tế bào ở màng xương sẽ phân chia thành các tế bào mới, đẩy các tế bào cũ vào rồi cốt hóa làm xương dài to ra, phản ứng màng xương xảy ra khi vỏ xương phản ứng với một trong nhiều tổn thương. bất kỳ chấn thương.

Tại sao màng xương lại có chức năng này? Vì màng xương là một loại màng sinh học nhân tạo mới được chiết xuất từ ​​chính collagen (chiếm 95%). Đây là những miếng collagen có cấu trúc 3 chiều với đặc tính thô và xốp giúp thẩm thấu, kháng viêm cũng như làm vết thương nhanh lành hơn.

Tìm hiểu về phản ứng màng xương

Phản ứng màng xương là một phản ứng không đặc hiệu và xảy ra khi màng xương bị kích thích bởi một khối u lành tính hoặc ác tính, chấn thương hoặc nhiễm trùng. Các khối u, chấn thương, nhiễm trùng, một số loại thuốc và một số bệnh thấp khớp có thể nâng màng xương lên khỏi vỏ xương và hình thành các loại phản ứng màng xương khác nhau.

Hình thái của phản ứng màng xương được xác định chính xác bởi cường độ, mức độ xâm lấn và cả thời gian của tổn thương bên dưới. Hơn nữa, màng xương ở trẻ em thường hoạt động mạnh hơn và ít dính hơn màng xương của người lớn. Do đó, phản ứng màng xương có thể xảy ra sớm hơn và có thể xâm nhập nhiều hơn ở người lớn.

Xem thêm: Cân bằng nội môi là gì? Ý nghĩa của việc duy trì cân bằng nội môi

Thành phần của xương là gì?

Theo nội dung cấu tạo của xương thế hệ thứ 8, xương có cấu tạo như sau:

Các thành phần chính của một bộ xương

Bộ xương người được chia thành ba phần: hộp sọ (bao gồm xương mặt và hộp sọ), thân (bao gồm xương ức, xương sườn và cột sống) và tứ chi (xương của các chi trên – cánh tay và chân). đáy – là chân).

Tất cả gồm 300 xương ở trẻ em và 206 xương ở người lớn; có các xương dài, ngắn, dẹt khác nhau để nối với nhau ở các khớp. Ngoài ra còn có rất nhiều sụn trong bộ xương.

Cấu trúc cơ bản của một bộ xương
Cấu trúc cơ bản của một bộ xương

Hộp sọ của con người sẽ bao gồm 8 xương ghép lại với nhau để tạo thành hộp sọ lớn chứa não. Xương mặt tương đối nhỏ, xương hàm ít thô hơn ở động vật vì chủ yếu dùng để nhai thức ăn chín chứ không phải là vũ khí để tự vệ.

Lồi cằm liên quan trực tiếp đến cơ vận động ngôn ngữ. Cột sống bao gồm từ 33 đến 35 đốt sống khớp với nhau và sẽ cong ở 4 chỗ tạo thành 2 hình chữ S nối tiếp nhau giúp cơ thể đứng thẳng. Các xương sườn gắn vào xương sống và gắn vào xương ức để tạo thành lồng ngực bảo vệ tim và phổi. Xương tay và xương chân cũng có những bộ phận tương ứng nhưng sẽ phân hóa khác nhau để phù hợp nhất với chức năng đứng thẳng và làm việc.

Phân loại xương

Dựa vào hình dạng cũng như cấu tạo, người ta phân thành 4 loại xương như sau:

  • Những chiếc xương dài: Có cấu trúc hình ống với mô xương xốp ở hai đầu xương, đoạn giữa chứa tủy đỏ ở trẻ em và chứa mỡ vàng ở người lớn như xương cánh tay, xương đùi, xương ống chân… Loại xương này có nhiều. tốt nhất.
  • Xương ngắn: Kích thước ngắn, chẳng hạn như đốt sống, xương mắt cá chân, xương cổ tay, v.v.
  • Xương phẳng: Nó có hình dẹt, mỏng như xương ở bả vai, xương chậu và hộp sọ. Đây là loại xương có số lượng ít nhất.
  • Xương không đều (hoặc xương có hình dạng không đều): Đây là những xương tương đối phức tạp như xương hàm trên, xương thái dương và xương ở đáy hộp sọ.

khớp khác

Đây là nơi các đầu xương gặp nhau nên được gọi là khớp. Có ba loại khớp chính: Khớp động như ở bàn tay, bàn chân; Các khớp bán động như khớp đốt sống và khớp bất động như khớp sọ.

  • Khớp động: Là khớp phổ biến và dễ cử động nhất trong cơ thể con người như xương đùi, xương chày, khớp chậu, xương đùi. Bề mặt khớp ở mỗi đầu xương sẽ có một lớp sụn trơn láng, có tính đàn hồi cao, tác dụng chính là giảm lực ma sát giữa hai đầu xương. Giữa các khớp sẽ có một lớp đệm chứa đầy dịch nhầy do thành nang tiết ra và được gọi là bao hoạt dịch. Bên ngoài khớp động sẽ là các dây chằng dẻo dai, đàn hồi, đi từ đầu xương này sang đầu xương kia tạo thành một khối bịt kín hai đầu xương. Nhờ cấu tạo đó mà loại khớp này di chuyển tương đối dễ dàng. Khớp phức tạp nhất trong cơ thể con người là khớp gối.
  • Khớp bán động: Là loại khớp mà ở giữa hai đầu xương thường có một đĩa sụn để hạn chế cử động của khớp. Khớp bán động điển hình sẽ là đốt sống, ngoài khớp hông. Ở trẻ em đã có khung xương chậu… các đĩa sụn đàn hồi cực tốt nên có thể cong lưng hay dang chân dễ dàng. Ngược lại, ở người trưởng thành và đặc biệt là người cao tuổi, các đĩa sụn bị xẹp xuống khiến cột sống cử động khó khăn hơn, dang chân vô cùng khó khăn.
Các khớp của cơ thể
Các khớp của cơ thể
  • Khớp bất động: Ngoài ra còn có một số xương trong cơ thể được cố định với nhau, chẳng hạn như hộp sọ và một số xương mặt. Các xương này liên kết với nhau bằng các răng cưa nhỏ hoặc do các cạnh của xương được bao phủ bởi lớp vảy cá nên khi các cơ co lại, các khớp sẽ không cử động được.

Trong cơ thể con người có tổng cộng 360 khớp, khớp sọ: 86; khớp hầu: 6; số đốt ngón tay: 32 (2 bàn tay: 64); khớp chân: 31 (2 chân: 62); khớp cột sống và xương chậu: 76, khớp ngực: 66.

Xem thêm: Di truyền học là gì? Tìm hiểu thông tin liên quan

Cấu tạo và phát triển của xương

Cấu tạo và chức năng của xương: Hai đầu xương sẽ là mô xương lồi với các xương sắp xếp thẳng hàng để phân tán lực tác động và tạo thành khoang chứa tủy. Bao bọc các đầu xương là một lớp sụn để giảm lực ma sát ở các đầu xương. Đoạn giữa sẽ là trục xương. Thân xương có dạng hình trụ, cấu tạo từ ngoài vào trong gồm: Một lớp màng mỏng bảo vệ, mô xương và khoang xương. Màng xương giúp xương phát triển chắc khỏe hơn về chiều rộng. Mô xương cứng có thể chịu lực, đảm bảo sự vững chắc của cấu trúc xương. Trong khoang xương sẽ chứa tủy xương, ở trẻ em là tủy đỏ để sản xuất hồng cầu, còn ở người lớn tủy đỏ sẽ được thay thế bằng mô mỡ màu vàng nên được gọi là tủy vàng.

Cấu tạo của xương ngắn và xương dẹt: Xương ngắn và dẹt sẽ không có cấu trúc hình ống và bên ngoài là mô xương cứng, bên trong mô xương cứng sẽ là mô xương xốp gồm nhiều nan xương và các hốc nhỏ rỗng (như xương xốp). ở đầu các xương dài) chứa tủy đỏ.

Xương nở ra theo chiều ngang do tế bào màng xương phân chia tạo tế bào mới để đẩy tế bào cũ vào trong và biến thành xương. Chiều dài của xương dựa trên quá trình phân chia tế bào trong quá trình tăng trưởng của sụn. Trong thời niên thiếu, xương phát triển rất nhanh. Cho đến khoảng 18-20 tuổi ở nữ hoặc 20-25 tuổi ở nam, quá trình phát triển của xương sẽ dần chậm lại. Ở người trưởng thành, sụn tăng trưởng sẽ không còn khả năng biến thành xương chính nên người đó sẽ không thể cao thêm được. Ở người già, xương sẽ dần bị phân hủy nhanh hơn so với quá trình hình thành, tốc độ ghép xương cũng giảm nên xương của người già thường xốp và giòn, nếu bị gãy xương sẽ phục hồi rất chậm và không còn chắc khỏe.

Thành phần hóa học của xương là gì?

Thành phần hóa học chính của xương sẽ bao gồm 2 phần chính là chất hữu cơ và chất vô cơ (chất khoáng) liên kết chặt chẽ với nhau để đảm bảo cho xương có tính đàn hồi và rắn chắc nhất. Nhờ đó, xương có thể chống lại các lực cơ học tác động lên cơ thể. Như sau:

+ Chất hữu cơ (chiếm khoảng 30% trọng lượng khô của xương) gồm protein, mucopolysaccharid, lipid. Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là phức hợp collagen và protein. Đây là những glucosaminoglycan bao gồm chondroitin sulfat và axit hyaluronic kết hợp với protein.

Xương có thành phần hóa học khá phức tạp
Xương có thành phần hóa học khá phức tạp

+ Chất vô cơ (chiếm khoảng 70% trọng lượng khô của xương) gồm các muối canxi, magie, silic, mangan, kẽm, đồng…, trong đó chủ yếu là CaCO3 và Ca3(PO4)2.

Thành phần hóa học của xương ở mỗi người sẽ không hoàn toàn giống nhau. Tỷ lệ đó còn phụ thuộc vào tình trạng dinh dưỡng, tuổi tác cũng như tình trạng bệnh tật của mỗi người. Cơ thể trẻ càng nhỏ, chất hữu cơ trong xương càng nhiều nên xương của trẻ sẽ có độ mềm dẻo nhất. Khi chúng ta già đi, tỷ lệ chất vô cơ tăng dần nên xương trở nên giòn và rất dễ gãy.

Hy vọng với những thông tin mà chúng tôi vừa cung cấp trên đây đã có thể giúp bạn đọc hiểu được chức năng của màng trong xương dài cũng như đặc điểm cấu tạo của xương.


Danh Mục: Là Gì

Leave a Comment